các giải thưởng đạt được

Số lượt truy cập

Thiet ke webThiet ke webThiet ke webThiet ke webThiet ke webThiet ke web

Cẩm nang / Kiến thức chung

VAI TRÒ CỦA PHÂN BÓN TRONG TRỒNG TRỌT

I. VAI TRÒ CỦA PHÂN BÓN TRONG TRỒNG TRỌT

1. HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG PHÂN BÓN

Phân bón hóa học cung cấp chất dinh dưỡng quan trọng cho sự phát triển của cây trồng, góp phần làm cho cây trồng phát triển tốt và đạt năng suất cao.

Việc sử dụng phân bón cho cây trồng, phải kết hợp với cây giống, nước, chăm sóc. Tất cả phải gắn kết bổ sung nhau để đạt kết quả tốt.

Phân bón là yếu tố quan trọng và là nguồn cung cấp chủ yếu dinh dưỡng vô cơ cho cây trồng thong qua quá trình hấp thu của bộ rễ. Nhưng cấu tạo đất không giống nhau, đất ở mỗi vùng khác nhau. Vì vậy cải tạo đất chính là bổ sung chất dinh dưỡng vào trong đất để cho cây trồng hấp thu chất dinh dưỡng nuổi than cây, lá, hoa quả một cách phù hợp, làm cho cây trồng phát triển tốt và sản phẩm đạt năng suất cao.

Phân hỗn hợp NPK là loại phân vô cơ được sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu khác nhau của từng loại cây trồng theo các tỷ lệ cân đối giữa đạm (N), lân (P), kali (K). Phân hỗn hợp NPK có hiệu quả đối với tất cả các loại cây trồng, làm cho cây trồng phát triển tốt, cho năng suất cao và sản phẩm có chất lượng tốt.

Các chất dinh dưỡng trong phân hỗn hợp NPK có vai trò quan trọng khác nhau trong quá trình phát triển của cây trồng.

2. VAI TRÒ CÁC CHẤT DINH DƯỠNG

Vai trò của đạm

Đạm cần cho cây suốt quá trình sinh trưởng, đặc biệt là giai đoạn cây tăng trưởng mạnh, rất cần cho các cây ăn lá.

Bón đạm thúc đẩy cây tăng trưởng, đâm nhiều chồi, cành lá, làm lá có kích thước to, xanh, quang hợp mạnh, tăng năng suất cây trồng.

Tuy nhiên bón dư đạm làm cho cây phát triển quá nhanh, dễ đổ ngã, ra hoa chậm, ít hạt, hạt lép, dễ rụng, nhiều sâu bệnh, chất lượng nông sản giảm, không hiệu quả kinh tế.

Cách bón

- Đạm bón làm nhiều đợt, tuy nhiên phải bón lượng nhiều hơn vào giai đoạn cây sinh trưởng mạnh nhất.

Ví dụ: Cây lúa cần đạm nhiều vào giai đoạn chuẩn bị đẻ nhánh để tập trung đẻ nhánh hữu hiệu, nếu bón đạm muộn thì cây sẽ đẻ lai rai, nhiều nhánh vô hiệu, năng suất thấp (Bón nhiều vào giai đoạn 20-25 ngày sau khi gieo sạ).

- Tránh bón đạm lúc trời nắng to, hoặc lúc mưa đầy nước sẽ làm mất đạm.

- Bón đạm kết hợp làm cỏ sục bùn, vùi sâu kết hợp tưới nước.

Vai trò của lân

Lân cần cho việc tạo ra bộ phận mới của cây, ví lân có trong thành phần Protit.

Kích thích phát triển rễ, làm rễ ăn sâu và rộng giúp cây hút được nhiều chất dinh dưỡng và chống chịu tốt với điều kiện khí hậu bất thường

Giúp cây đẻ nhiều chồi nhánh, ra hoa kết quả nhiều và sớm.

Tăng năng suất và phẩm chất nông sản.

Cách bón

- Lân chủ yếu dung bón lót và bón thúc sớm giúp bộ rễ phát triển mạnh, làm tiền đề cho năng suất về sau.

- Bón theo hang, theo hốc để tăng tiếp xúc giữa rễ và phân. Bởi vì trong dung dịch đất phân lân khuếch tán chậm.

Vai trò của Kali

Kali đóng vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng trong quá trình đồng hóa của cây.

Kali làm tăng khả năng đề kháng của cây trồng, giúp cây cứng chắc, ít đổ ngã, chống sâu bệnh, tăng khả năng chịu rét, chịu úng và chịu hạn cho cây.

Kali làm giàu đường cho các loại cây ăn quả, mía, làm tăng hàm lượng tinh bột, tăng phẩm chất và năng suất nông sản, làm tăng hiệu quả kinh tế.

Cách bón

- Bón lót một ít để cân đối với đạm, lân, giúp cây sinh trưởng phát triển trong giai đoạn đầu.

- Tập trung bón thúc vào giai đoạn cây sắp trổ, sắp ra hoa để chuyển hóa năng lượng cho quá trình làm đòng và kết trái, tăng năng suất phẩm chất nông sản.

Canxi

Cải tạo đất chua, mặn.

Tạo điều kiện cho vi sinh vật hoạt động tốt, phân giải các chất hữu cơ trong đất.

Tăng độ hòa tan các chất dinh dưỡng và khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng của cây.

Diệt một số loại sâu bệnh hại.

Khử độc cho cây.

Magie

Là thành phần của diệp lục, giúp cây quang hợp K.

Thúc đẩy hấp thụ và vận chuyển lân.

Do đó Canxi và Magie thường dùng để bón lót.

Lưu huỳnh (S)

Giúp cấu trúc Protein được vững chắc.

Tổng hợp Protit.

Kẽm (Zn)

Tăng tính chịu nóng, chịu hạn, tính miễn dịch với bệnh.

Đẩy mạnh việc sử dụng và chuyển hóa đạm, lân trong cây.

Đất kiềm thường thiếu kẽm, bón vội và lân nhiều cần bổ sung kẽm.

Dùng Kẽm Sulphat (ZnSO4) hoặc Kẽm Clorua (ZnCl2) bón 3 – 5 kg/ha vào đất hoặc pha nồng độ 0.02 – 0.05% xịt trên lá.

Coban (Co)

Cần cho quá trình cố định đạm của vi sinh vật, tăng khả năng hút lân của cây.

3. CÁC NGUYÊN TỐ VI LƯỢNG

Sắt (Fe)

Sắt có vai trò trong quang hợp, thiếu sắt cây không tổng hợp được diệp lục, lá bị hủy hoại, giảm năng suất.

Cách bón:

- Nếu sử dụng phân chuồng, phân hữu cơ nhiều thì có thể không cần phải bòn thêm sắt.

- Dùng Sulphate sắt II pha với tỷ lệ 1 – 2% trong nước để phun. Nếu bón vào đất trong môi trường kiềm sắt bị kết tủa cây không sử dụng được.

Đồng (Cu)

Đồng là thành phần cấu tạo của các men thúc đẩy chức năng hô hấp của cây, xúc tiến quá trình hình thành hình thành Vitamin A trong cây. Đồng làm tăng hiệu lực của Kẽm, Mangan, Bo.

Dùng Đồng sulphate: CuSO4.n H2O pha nồng độ 0.02 – 0.05% xịt trên lá.

Mangan (Mn)

Làm cho cây ra mầm sớm, rể to khỏe, ra hoa kết trái tốt, trổ bong đều.

Mangan làm tăng hiệu lực của phân lân.

Dùng Kali Pecmanganat (KMnO4): 0.5 – 1% xịt lên lá hoặc dùng MnSO4.5H2O bón 5 kg/ha.

Molipden (Mo)

Tăng cường khả năng quang hợp, giúp cây hấp thu nhiều Nitơ và cố định đạm.

Cần cho các vi sinh vật đạm khí trời, phát triển nhiều nốt sần cố định đạm ở cây họ đậu.

Tăng hiệu quả cảu lân.

Cần cho tồng hợp vitamin C.

Mo phát huy hiệu quả trong đất có môi trường từ trung tính đến kiềm dùng Molipdat amôn nồng độ 0.1% xịt lên lá.

Bo (B)

Bảo đảm sự hoạt động bình thường của mô phân sinh ngọn.

Thiếu Bo dễ bị thối nõn.

Đẩy mạnh việc hút ca, điều tiết tỷ lệ K:ca trong cây.

Tăng tỷ lệ đậu hoa, trái, dùng khi cây sắp ra hoa.

Dùng H3BO3 xịt lá với nồng độ 0.03 – 0.05%.

Các loại phân bón vi lượng ít được sử dụng để bón vào đất cung cấp cho cây trồng. Người ta thường sử dụng phun lá bởi vi lượng chỉ sử dụng một lượng rất nhỏ trong khi bón vào đất thì rất dễ bị hạn chế sử dụng do phản ứng dung dịch đất. Các loại phân bón vi lượng bón cho cây trồng hiệu suất sử dụng phụ thuộc rất lớn nồng độ pH dung dịch đất.

II. NGUYÊN LÝ CHUNG VỀ SỬ DỤNG PHÂN BÓN.

1. SỬ DỤNG PHÂN BÓN TUỲ THEO CÂY TRỒNG

Các loại cây trồng khác nhau có nhu cầu khác nhau đối với điều kiện ngoại cảnh và chế độ bón phân. Các điều kiện ngoại cảnh quan trọng nhất có liên quan đến chế độ phân bón là hàm lượng dinh dưỡng trong đất và phản ứng môi trường đất (tức độ chua hay pH đất). Ta có thể chia các cây trồng thông thường ở Việt Nam làm các nhóm như sau, tùy theo mức độ chịu chua của cây đối với đất:

(1) Nhóm cây trồng rất mẫn cảm với độ chua (tức ưa đất từ trung tính đến hơi kiềm): Đứng đầu là cây bông vải (pH 6,5-9,0), đậu tương (pH 6,0-7,0), bắp cải (pH 6,7-7,4), ...

(2) Nhóm cây trồng mẫn cảm với độ chua (tức ưa đất từ ít chua đến trung tính): Cây đậu xanh (pH 5,5-7,0), cây bắp (pH 6,0-7,0), cà chua (pH 6,3-6,7), nhiều loại rau, nhiều loại cây ăn quả..

(3) Nhóm cây trồng mẫn cảm vừa với độ chua (tức có thể chịu đựng với đất chua vừa) : Cây đậu phọng (pH 5,5-7,0), , khoai tây (pH 5,0-5,5),

(4) Nhóm cây trồng ít mẫn cảm với độ chua: Cây đậu đen, cây lúa, cây mía…

N hững cây này có một phạm vi thích ứng rất rộng về pH đất, có thể dao động từ 3,5-7,5

(5) Nhóm cây trồng ưa chua: cây chè, cây dứa (thơm) .

(Nguồn: A.X. Radov, I. V. Puxtovoi, A.V. Korolkov, 1978. Lê Xuân Đính, 1997. Nguyễn Thế Côn, 1996. Vũ Cao Thái, Lê Văn Nghĩa, Nguyễn Xuân Trường, 1999. Đoàn Thị Thanh Nhàn, 1996.)

Cây bông vải đặc biệt mẫm cảm với đất chua. Khi đất bị chua đến một mức độ nhất định (Tức theo mức độ giảm dần của pH) thì trồng bông không có hiệu quả hoặc không còn trồng được bông nữa, trong khi đó cây đậu xanh và cây bắp vẫn còn có thể đứng được nhưng năng suất và chất lượng đã bị giảm sút đáng kể. Khi pH giảm đến mức cây đậu xanh và cây bắp không còn trồng được nữa thì cây đậu phọng vẫn còn chịu được. Cây đậu phọng có thể chịu đựng được ở một khoảng khá rộng của pH đất, nhưng cần được bón phân đầy đủ hơn (nhất là Canxi) trên những chân đất đã bị chua hóa nhiều. Cây đậu đen, cây lúa và cây mía là những cây chịu đất nghèo và chua rất tốt. Tuy nhiên trong điều kiện này năng suất đã bi giảm đáng kể nếu chế độ phân bón không tốt. Ngược lại cây chè, cây dứa lại chỉ ưa đất chua và sẽ mọc rất kém ở những chân đất gần trung tính và hơi kiềm.

Theo đặc điểm của cây trồng như đã phân loại ở trên thì những cây càng mẫn cảm với độ chua của đất càng cần được bón các loại phân có chứa nhiều Canxi và Magie, nhất là Canxi (vôi hoặc bột đá vôi). Các loại phân Đạm, Lân và Kali chỉ phát huy được tác dụng tốt khi cây trồng đã được thỏa mãn các nguyên tố “trung lượng” trên. Chung quy lại thì các loại cây trồng từ nhóm 3 trở lên rất cần đất ít chua và cần được bón các loại phân giàu Canxi và Magie. Ngược lại, đối với các cây trồng thuộc nhóm 4 và 5 thì nhu cầu đối với Canxi và Magie rất thấp và do vậy trong cơ cấu phân bón cũng chỉ cần 1 lượng vừa phải.

Ngoài yêu cầu về các nguyên tố thứ yếu, mỗi cây trồng đều đòi hỏi một liều lượng và tỷ lệ các nguyên tố NPK nhất định. Tuỳ theo yêu cầu đó mà chọn các loại phân NPK theo các tỷ lệ NPK thích hợp.

2. SỬ DỤNG PHÂN BÓN TUỲ THEO TÍNH CHẤT ĐẤT

Tính chất đất, trong đó nổi bật là tính chất hóa học đất, có liên quan rất nhiều đến cách sử dụng phân bón. Ta có thể tạm chia đất thành 3 loại theo tính chất hóa học đất (hay độ phì nhiêu) như sau:

1) Đất tốt: Đất tốt, hiểu theo nghĩa ứng dụng trong kỹ thuật bón phân, là đất có các tính chất hóa học tốt. Các loại đất này thường không chua hoặc ít chua, giàu các nguyên tố Canxi, Magie và các nguyên tố dinh dưỡng khác. Đất thường có Độ No Bazơ trên 60%, hàm lượng Canxi trao đổi trên 5 mili đương lượng/ 100 g đất. Các loại đất này thường là đất phù sa mới của các con sông, đất đen, đất nâu đỏ phát triển trên đá Bazan, đá vôi …

2) Đất trung bình: Loại này thường bao gồm các loại đất đã bị chua hóa trung bình, có hàm lượng Canxi, Magie và cả các nguyên tố dinh dưỡng khác ở mức trung bình. Đất thường có Độ No Bazơ 40 – 60%, hàm lượng Canxi trao đổi 2 – 5 mili đương lượng/ 100 g đất. Các loại đất này thường là đất phù sa cũ, đất đỏ nâu trên Bazan, đất xám xẫm màu …

3) Đất xấu: Bao gồm các loại đất đã bị chua nhiều, có hàm lượng Canxi, Manhe và các nguyên tố dinh dưỡng khác ở mức nghèo. Đất thường có Độ No Bazơ nhỏ hơn 40%, hàm lượng Canxi trao đổi thường nhỏ hơn 2 mili đương lượng/ 100 g đất. Các loại đất này thường là đất phù sa cổ, đất đỏ lợt màu trên Bazan, đất xám bạc màu …

Tuy nhiên còn một số loại “đất xấu” khác nhưng không phổ biến ở nước ta như đất mặn, mặn kiềm, đất phèn v.v.. nhưng chúng xấu theo một nguyên lý khác, không đặc trưng cho loại đất rửa trôi mạnh ở vùng nhiệt đới ẩm như Việt Nam .

Ơ các loại đất tốt thì việc bón phân cũng ít quan trọng và thường cũng chỉ cần chú ý bón các loại phân chính yếu là các nguyên tố NPK. Ơ các loại đất này nông dân thường "bóc lột" độ phì tự nhiên của đất bằng cách không bón phân hoặc chỉ bón phân đạm Urea là đủ.

Ngược lại, ở đất trung bình, nhất là ở đất xấu thì việc bón phân vô cùng quan trọng. Bón phân cho các loại đất này, ngoài việc phải bón đầy đủ phân NPK, người ta còn phải quan tâm nhiều đến các nguyên tố phụ như Canxi, Magie, Lưu huỳnh. Không những thế, trên các loại đất xấu, nhất là đất xám bạc màu, người ta còn phải bón các loại phân có chứa đầy đủ cả các nguyên tố vi lượng nữa. Việc bón phân cho đậu phọng trên đất xám là một ví dụ. Ơ đây ngoài việc phải bón đầy đủ phân NPK người ta bắt buộc phải bón thêm “tro dừa”. Không phải chỉ trên cây đậu phọng, mà các cây trồng khác trên đất xám cũng rất cần được bón các loại phân dạng “tro dừa” đó. Chúng ta phải hiểu rằng “tro dừa” ở đây có nghĩa là loại phân tổng hợp, trong đó chủ yếu cung cấp các nguyên tố thứ yếu như Canxi, Manhe, Kali và các nguyên tố vi lượng khác nữa. Hiện nay trên thị trường cũng đã xuất hiện một số loại phân bón có thể thay thế được tro dừa cho vùng đất xám.

3. SỬ DỤNG PHÂN BÓN TUỲ THEOĐIỀU KIỆN THỜI TIẾT

Tùy theo điều kiện thời tiết từng mùa mà việc sử dụng phân bón cũng phải thay đổi cho phù hợp. Nếu bón phân mà không quan tâm đến thời tiết mùa vụ thì rất dễ bị thất bại do không sử dụng được lợi thế của phân bón theo mùa, hoặc do bón qúa nhiều so với khả năng đồng hóa của cây trong mùa đó mà gây ra lốp, đổ giảm năng suất, chất lượng sản phẩm.

· Trong điều kiện thời tiết nắng nhiều nhưng đủ nước tưới: Ở điều kiện này cây sử dụng phân rất có hiệu quả và có thể tăng lượng phân bón mà không sợ lốp đổ. Ngược lại nếu biết tăng lượng phân bón một cách hợp lý khi trời nắng nhiều và có đủ nước thì năng suất và hiệu quả kinh tế sẽ được tăng lên rất rõ. Đây cũng là thời cơ đạt được sản lượng mùa màng cao.

· Trong điều kiện nắng nhiều nhưng không đủ nước tưới : Nắng nhiều là thời cơ rất tốt cho cây quang hợp và cho năng suất cao, tuy nhiên nếu không đủ nước tưới thì cây cũng không sử dụng được phân bón và cũng không quang hợp tốt được. Ngược lại nếu cây bị hạn lúc trời nắng nóng thì bón phân lại rất nguy hiểm. Phân bón lúc này có thể gây cho cây càng bị hạn thêm, đễ bị héo, cháy lá v.v..

· Trong điều kiện mưa nhiều, âm u, ít nắng: Trong điều kiện này mặc dù cây đủ nước, thuận lợi cho các qúa trình đồng hóa và chuyển hóa dinh dưỡng trong cây, nhưng do thiếu nắng nên cây quang hợp yếu, không tạo ra được đầy đủ các vật chất hữu cơ ban đầu nên không có khả năng sử dụng phân bón được nhiều. Lượng phân bón lúc này cần phải rút lại so với khi thời tiết nắng ráo. Ví dụ, lúa mùa (được trồng trong mùa mưa, ít nắng) luôn luôn phải bón ít phân hơn lúa xuân (được trồng trong mùa khô, nắng nhiều), nhất là phân đạm. Ngược lại lúc trời âm u, ít nắng ngoài việc cần giảm lượng phân bón, nhất là phân đạm, thì lại cần bón thêm cho cây 1 lượng Kali nhất định để giúp cây cứng cáp hơn, ít bị đổ ngã hơn.

Bookmark and Share